EPS là gì? Cách tính EPS và đọc chỉ số EPS cho đúng
Lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu đo điều gì, vì sao kỳ tính, dòng lợi nhuận và số cổ phiếu đều làm đổi kết quả, và cách đọc EPS khi doanh nghiệp phát hành thêm.
EPS, lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu, là phần lợi nhuận thuộc về mỗi cổ phiếu phổ thông. Nó là mẫu số của chỉ số P/E và là điểm xuất phát của phần lớn phép định giá, nên một sai số nhỏ ở EPS sẽ thành sai số lớn ở mọi thứ dựng trên nó.
Bài này là một phần của khung rộng hơn trong Phân tích cơ bản cổ phiếu: cách đánh giá và định giá doanh nghiệp.
Công thức
EPS = lợi nhuận sau thuế thuộc về cổ đông công ty mẹ / số cổ phiếu.
Công thức trông đơn giản, nhưng bên trong có ba lựa chọn, và mỗi lựa chọn có thể làm kết quả lệch vài phần trăm hoặc hơn: lợi nhuận của kỳ nào, dòng lợi nhuận nào, và số cổ phiếu nào.
Kỳ nào: mười hai tháng, từ bốn quý liền nhau
Để tính P/E hay đem so với thị giá, EPS phải tính trên mười hai tháng gần nhất, tức tổng bốn quý gần nhất. Dùng một quý thì con số nhỏ đi khoảng bốn lần, còn lấy một quý nhân bốn là ngầm cho rằng doanh nghiệp không có tính mùa vụ, điều hiếm khi đúng.
Bốn quý phải liền nhau. Khi dữ liệu thiếu một quý, cộng bốn dòng gần nhất là lặng lẽ trộn các quý của những năm khác nhau rồi gọi đó là một năm. Khi đó iWinStock để trống EPS mười hai tháng thay vì hiện một con số dựng từ sai quý.
Lợi nhuận nào: phần của cổ đông công ty mẹ
Lợi nhuận hợp nhất của một tập đoàn gồm cả phần thuộc về cổ đông thiểu số ở các công ty con. Phần đó không thuộc về người nắm cổ phiếu niêm yết. EPS dùng lợi nhuận sau thuế thuộc về cổ đông công ty mẹ, thường là dòng ngay dưới lợi nhuận sau thuế hợp nhất.
Độ chính xác cũng quan trọng. Nhiều số liệu công bố được làm tròn tới tỷ đồng. Với doanh nghiệp lớn, làm tròn như vậy không đáng kể. Với doanh nghiệp lãi vài tỷ đồng mỗi quý, nó có thể làm EPS lệch hơn 10%. iWinStock tính từ số đầy đủ trong báo cáo gốc.
Số cổ phiếu nào: cuối kỳ hay bình quân
Có hai cách thường gặp:
- Số cổ phiếu bình quân gia quyền trong kỳ, cách doanh nghiệp dùng trong báo cáo của chính mình. Nó khớp với phần lợi nhuận làm ra trong lúc số cổ phiếu thay đổi.
- Số cổ phiếu cuối kỳ, khớp với số cổ phiếu đang tồn tại hôm nay và đứng sau thị giá hôm nay.
Với một tỷ số lấy giá hôm nay chia EPS, số cổ phiếu cuối kỳ là lựa chọn nhất quán, và đó là cách iWinStock dùng. Doanh nghiệp không phát hành thêm trong năm thì hai cách cho cùng một kết quả. Doanh nghiệp phát hành thêm nhiều thì hai cách có thể lệch vài phần trăm, nên EPS trên iWinStock có thể khác con số trong báo cáo của doanh nghiệp chỉ vì lý do này.
Bản thân số cổ phiếu được suy từ vốn góp của chính kỳ đó, chia mệnh giá 10.000 đồng. Không lấy số cổ phiếu hôm nay áp cho lợi nhuận của các kỳ cũ: làm vậy thì EPS quá khứ của mọi doanh nghiệp đã phát hành thêm từ đó tới nay đều sai.
Đọc EPS khi doanh nghiệp phát hành thêm cổ phiếu
Chia cổ phiếu thưởng hay trả cổ tức bằng cổ phiếu làm tăng số cổ phiếu mà không đưa đồng tiền mới nào vào doanh nghiệp. EPS giảm đúng theo tỷ lệ đó, dù doanh nghiệp không thay đổi gì.
Vì vậy EPS giảm không phải lúc nào cũng là tin xấu. Trước khi đọc xu hướng EPS:
- xem số cổ phiếu có thay đổi trong cùng kỳ không;
- với các năm quanh đợt phát hành, so tăng trưởng lợi nhuận chứ không chỉ tăng trưởng EPS;
- nhớ rằng doanh nghiệp phát hành thêm để huy động tiền thì về sau phải lãi nhiều hơn về tổng, nhưng mỗi cổ phiếu cũ sở hữu một phần nhỏ hơn.
Trang tổng quan của mỗi mã có EPS mười hai tháng của bốn kỳ gần nhất, ví dụ tổng quan MWG, còn báo cáo đầy đủ nằm ở trang báo cáo tài chính.
EPS âm
Doanh nghiệp đang lỗ có EPS âm. Đó là con số thật và iWinStock hiện đúng như vậy. Thứ không tồn tại trong trường hợp này là chỉ số P/E: giá chia cho một khoản lỗ không phải là một mức định giá, nên ô P/E để trống chứ không ghi 0. Bài Chỉ số P/E là gì và đọc thế nào giải thích vì sao.
iWinStock dùng EPS thế nào
- P/E là giá hiện tại chia EPS 12 tháng.
- P/E lịch sử dùng EPS của từng kỳ quá khứ với giá thật của đúng ngày đó, không bao giờ dùng giá đã điều chỉnh.
- Tab định giá xuất phát từ EPS 12 tháng và mức tăng của nó qua các năm, để bạn tự dự phóng lợi nhuận theo giả định của mình.
Trang tỷ số tài chính của mỗi mã hiện mức tăng trưởng EPS so với cùng kỳ năm trước, đặt cạnh trung vị của ngành, ví dụ tỷ số tài chính của MWG.
Bài viết giải thích khái niệm và số liệu, không phải khuyến nghị đầu tư.