Chỉ số P/E là gì và đọc thế nào
Chỉ số giá trên lợi nhuận giải thích bằng số liệu thật, vì sao P/E lịch sử tính trên giá điều chỉnh bị sai, và nên chia cho lợi nhuận nào.
Chỉ số P/E trả lời một câu hỏi: hôm nay nhà đầu tư trả bao nhiêu tiền cho mỗi đơn vị lợi nhuận mỗi năm của doanh nghiệp.
Công thức
P/E = giá cổ phiếu / lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu (EPS) của 12 tháng gần nhất.
P/E bằng 10 nghĩa là thị giá bằng mười năm lợi nhuận hiện tại của doanh nghiệp. P/E càng cao thì nhà đầu tư càng trả nhiều tiền cho cùng một mức lợi nhuận, thường vì họ kỳ vọng lợi nhuận đó sẽ tăng.
Thị trường Việt Nam đang ở đâu
Bảng dưới đây tính từ dữ liệu hôm nay, không gõ tay, và tự cập nhật theo từng phiên.
| Sàn | Rổ | Số mã có P/E | P/E trung vị | Số mã có P/B | P/B trung vị |
|---|---|---|---|---|---|
| HOSE | Mọi mã còn giao dịch | 377 | 9,2 | 395 | 0,91 |
| HOSE | Mã đủ thanh khoản (từ 2 tỷ đồng mỗi phiên) | 164 | 10,4 | 166 | 1,08 |
| HNX | Mọi mã còn giao dịch | 246 | 8,5 | 269 | 0,75 |
| HNX | Mã đủ thanh khoản (từ 2 tỷ đồng mỗi phiên) | 28 | 12,4 | 28 | 0,98 |
| UPCOM | Mọi mã còn giao dịch | 318 | 9,7 | 379 | 0,89 |
| UPCOM | Mã đủ thanh khoản (từ 2 tỷ đồng mỗi phiên) | 21 | 11,6 | 22 | 1,66 |
Hai rổ thường kể hai câu chuyện khác nhau. Hàng trăm mã UPCoM gần như không có giao dịch kéo lệch con số trung vị của cả sàn, nên rổ mã đủ thanh khoản thường là mốc so sánh tốt hơn cho một cổ phiếu mà bạn thật sự mua được với khối lượng đáng kể.
P/E theo ngành trên sàn HOSE
Ngân hàng, bán lẻ và phần mềm có mặt bằng bội số khác nhau về bản chất, nên trung vị của chính ngành một mã là thước đo công bằng hơn so với cả thị trường:
| Ngành | Số mã | P/E trung vị | P/B trung vị | ROE trung vị |
|---|---|---|---|---|
| Bất động sản | 56 | 14,0 | 0,61 | 4,8% |
| Xây dựng và Vật liệu | 52 | 7,7 | 0,64 | 8,7% |
| Hàng & Dịch vụ Công nghiệp | 41 | 8,6 | 0,97 | 12,2% |
| Điện, nước & xăng dầu khí đốt | 35 | 8,9 | 1,29 | 16,3% |
| Thực phẩm và đồ uống | 34 | 10,8 | 1,13 | 13,2% |
| Hóa chất | 25 | 8,3 | 0,79 | 11,1% |
| Tài nguyên Cơ bản | 24 | 8,6 | 0,76 | 4,5% |
| Dịch vụ tài chính | 22 | 14,6 | 1,12 | 9,1% |
| Ngân hàng | 22 | 6,8 | 1,04 | 15,6% |
| Hàng cá nhân & Gia dụng | 20 | 7,3 | 0,59 | 9,1% |
| Y tế | 14 | 10,4 | 0,95 | 8,8% |
| Bán lẻ | 12 | 9,9 | 1,62 | 11,9% |
| Du lịch và Giải trí | 10 | 9,4 | 0,93 | 6,4% |
| Ô tô và phụ tùng | 10 | 15,8 | 1,04 | 5,6% |
| Công nghệ Thông tin | 8 | 10,7 | 0,72 | 8,3% |
| Bảo hiểm | 5 | 9,0 | 1,16 | 12,1% |
Và một mã đặt cạnh trung vị nhóm ngành của nó:
| Chỉ số | MWG | Trung vị ngành |
|---|---|---|
| P/E | 11,3 | 10,4 |
| P/B | 3,05 | 1,03 |
| ROE | 27,1% | 10,3% |
Chia cho con số lợi nhuận nào
EPS 12 tháng cộng lợi nhuận sau thuế của cổ đông công ty mẹ trong bốn quý liền nhau, rồi chia cho số cổ phiếu. Hai chi tiết làm đổi kết quả, và bài EPS là gì? Cách tính EPS và đọc chỉ số EPS cho đúng đi sâu vào từng chi tiết:
- Bốn quý liền nhau, không phải bốn dòng gần nhất. Khi dữ liệu thiếu một quý, cộng bốn dòng mới nhất là lặng lẽ trộn những quý của các năm khác nhau. iWinStock để trống con số thay vì làm vậy.
- Số cổ phiếu cuối kỳ. Một số nguồn chia cho số cổ phiếu bình quân trong kỳ. Với cổ phiếu Việt Nam, iWinStock chia cho số cổ phiếu cuối kỳ, khớp với số cổ phiếu đứng sau thị giá hôm nay. Với doanh nghiệp có phát hành thêm, hai cách có thể lệch nhau vài phần trăm.
Vì sao P/E lịch sử phải dùng giá thật
Biểu đồ giá dùng giá đã điều chỉnh: sau mỗi đợt chia tách hay chia cổ tức bằng cổ phiếu, toàn bộ lịch sử giá được chia lại để biểu đồ không có bậc thang giả. Cách đó đúng cho biểu đồ nhưng sai cho P/E, vì EPS trong các báo cáo cũ tính theo số cổ phiếu thật của thời điểm đó.
Lấy giá đã điều chỉnh chia cho lợi nhuận thật thì P/E lịch sử bị kéo thấp đúng bằng hệ số điều chỉnh. Một ví dụ từ thị trường Việt Nam: với HPG cuối năm 2010, giá điều chỉnh cho P/E 0,20, trong khi con số công bố khi đó là 7,12. iWinStock dựng lại giá thật của từng phiên quá khứ từ giá trị và khối lượng khớp lệnh trước khi tính P/E lịch sử.
Khi nào P/E không nói lên điều gì
- Doanh nghiệp đang lỗ. P/E âm không phải một mức định giá, nên mọi con số trung vị trên trang này đều bỏ nó ra.
- Lợi nhuận vừa sụt mạnh. P/E trên 200 gần như luôn là lợi nhuận một kỳ rơi về gần 0, không phải cổ phiếu đắt khủng khiếp.
- So giữa các ngành. Ngân hàng, bán lẻ và thép có mặt bằng bội số khác nhau về bản chất. Hãy so một mã với chính ngành của nó, như ở trang phân tích cơ bản của MWG.
iWinStock hiện P/E thế nào
- Trang mỗi mã hiện P/E 12 tháng hiện tại, và tab phân tích cơ bản đặt nó cạnh trung vị của nhóm ngành.
- P/E lịch sử của từng quý dùng giá thật của phiên cuối quý đó, nên so được với con số hôm nay.
- Doanh nghiệp đang lỗ thì ô P/E để trống, không bao giờ ghi 0.
- Tab định giá lấy trung vị P/E nhiều năm của chính doanh nghiệp làm điểm xuất phát cho công thức P/E, và cho bạn đổi nó để xem kết quả dịch chuyển tới đâu.
P/E là một trong năm câu hỏi của phân tích cơ bản. Toàn bộ khung, gồm sinh lời trên vốn, tăng trưởng, sức khỏe tài chính và biên an toàn, nằm trong bài Phân tích cơ bản cổ phiếu: cách đánh giá và định giá doanh nghiệp.
Bài viết giải thích khái niệm và số liệu, không phải khuyến nghị đầu tư.