Giá trần, giá sàn, giá tham chiếu là gì? Biên độ từng sàn
Giá tham chiếu, giá trần, giá sàn và biên độ dao động của HOSE, HNX, UPCoM. Cách tính có làm tròn theo bước giá, ví dụ thật, và các trường hợp đặc biệt.
Giá tham chiếu là mốc giá của một phiên, thường là giá đóng cửa của phiên trước. Giá trần là mức cao nhất và giá sàn là mức thấp nhất mà một cổ phiếu được giao dịch trong phiên, tính bằng giá tham chiếu cộng hoặc trừ biên độ dao động: ±7% ở HOSE, ±10% ở HNX và ±15% ở UPCoM. Mọi lệnh đặt cao hơn giá trần hay thấp hơn giá sàn đều bị từ chối.
Bài này giải thích cách tính từng mức, vì sao con số trên bảng giá hơi khác phép nhân phần trăm, và những ngày biên độ không theo luật thường. Các ví dụ lấy từ dữ liệu phiên 09/10/2026.
Ba mức giá trên bảng giá
| Mức | Là gì | Màu quen dùng trên bảng giá |
|---|---|---|
| Giá tham chiếu | Mốc của phiên, để tính trần, sàn và mức tăng giảm | vàng |
| Giá trần | Mức cao nhất được đặt lệnh trong phiên | tím |
| Giá sàn | Mức thấp nhất được đặt lệnh trong phiên | xanh lơ |
Mức tăng giảm trong ngày luôn tính so với giá tham chiếu, không so với giá mở cửa. Một mã mở cửa giảm rồi đóng cửa trên tham chiếu vẫn là mã tăng trong ngày.
Biên độ dao động của từng sàn
| Sàn | Biên độ ngày thường | Giá tham chiếu |
|---|---|---|
| HOSE | ±7% | giá đóng cửa phiên trước |
| HNX | ±10% | giá đóng cửa phiên trước |
| UPCoM | ±15% | giá bình quân gia quyền khớp lệnh của phiên trước |
Sàn càng nhỏ thì biên độ càng rộng, vì cổ phiếu ở đó thường ít giao dịch và giá cần được phép dịch chuyển xa hơn để tìm được người mua, người bán.
Điểm khác của UPCoM: giá tham chiếu không phải giá đóng cửa mà là bình quân của mọi lệnh khớp trong phiên trước, tính theo khối lượng. Ví dụ VEA phiên 08/10/2026 đóng cửa 37.600 đồng nhưng giá tham chiếu phiên 09/10 là 37.700 đồng.
Cách tính giá trần, giá sàn: nhân rồi làm tròn theo bước giá
Công thức gốc:
- Giá trần = giá tham chiếu × (1 + biên độ)
- Giá sàn = giá tham chiếu × (1 − biên độ)
Nhưng giá chỉ được đặt theo bước giá, tức khoảng cách nhỏ nhất giữa hai mức giá:
| Sàn | Giá cổ phiếu | Bước giá |
|---|---|---|
| HOSE | dưới 10.000 đồng | 10 đồng |
| HOSE | 10.000 đến 49.950 đồng | 50 đồng |
| HOSE | từ 50.000 đồng | 100 đồng |
| HNX, UPCoM | mọi mức giá | 100 đồng |
Nên kết quả phép nhân được làm tròn: giá trần làm tròn xuống, giá sàn làm tròn lên tới bước giá gần nhất, để biên độ thực tế không bao giờ vượt quá mức luật cho phép. Bốn ví dụ phiên 09/10/2026:
| Mã | Sàn | Tham chiếu | Tham chiếu × (1 + biên độ) | Giá trần | Tham chiếu × (1 − biên độ) | Giá sàn |
|---|---|---|---|---|---|---|
| MWG | HOSE | 76.100 | 81.427 | 81.400 | 70.773 | 70.800 |
| HPG | HOSE | 20.150 | 21.560,5 | 21.550 | 18.739,5 | 18.750 |
| SHS | HNX | 11.600 | 12.760 | 12.700 | 10.440 | 10.500 |
| VEA | UPCoM | 37.700 | 43.355 | 43.300 | 32.045 | 32.100 |
Vì làm tròn, biên độ thực tế thường hẹp hơn một chút. MWG ngày đó chỉ được tăng tối đa 6,96% chứ không phải đúng 7%, và SHS chỉ được tăng 9,48%.
Với cổ phiếu giá rất thấp ở UPCoM, làm tròn có thể khiến giá trần hoặc giá sàn trùng với giá tham chiếu. Khi đó giá trần được cộng thêm một bước giá và giá sàn trừ đi một bước giá, để cổ phiếu vẫn có chỗ dao động.
Giá tham chiếu được điều chỉnh khi có cổ tức hay chia cổ phiếu
Vào ngày giao dịch không hưởng quyền, giá tham chiếu không còn là giá đóng cửa phiên trước mà được hạ xuống, vì người mua từ hôm đó không còn được nhận quyền:
- Cổ tức tiền mặt: giá tham chiếu = giá đóng cửa phiên trước − cổ tức mỗi cổ phiếu. MWG ngày 07/10/2026 trả 1.000 đồng: giá đóng cửa phiên trước 76.000 đồng, giá tham chiếu 75.000 đồng.
- Cổ tức bằng cổ phiếu, cổ phiếu thưởng: giá tham chiếu = giá đóng cửa phiên trước ÷ (1 + tỷ lệ chia). TCX ngày 17/09/2026 chia 20%: giá đóng cửa phiên trước 38.150 đồng, giá tham chiếu 31.800 đồng (38.150 ÷ 1,2 = 31.791,7, làm tròn theo bước giá), giá trần ngày đó 34.000 đồng.
Nên một mã "giảm" mạnh trên biểu đồ đúng ngày không hưởng quyền thường không phải là giá sụt thật. Bài dòng tiền cổ phiếu và sự kiện doanh nghiệp giải thích thêm về các sự kiện này.
Những ngày biên độ không theo luật thường
| Trường hợp | HOSE | HNX | UPCoM |
|---|---|---|---|
| Ngày giao dịch thường | ±7% | ±10% | ±15% |
| Ngày đầu tiên lên sàn | ±20% | ±30% | ±40% |
| Giao dịch trở lại sau khi bị tạm ngừng trên 25 phiên | ±20% | ±30% | ±40% |
Ngày đầu lên sàn, giá tham chiếu là giá do tổ chức niêm yết đề xuất cùng tổ chức tư vấn, nên biên độ được nới rộng để thị trường tìm ra giá. Cổ phiếu chuyển sàn cũng được nới biên độ ở phiên đầu tiên trên sàn mới: ACB ngày đầu ở HOSE (09/12/2020) và ECO ngày đầu ở HOSE (02/10/2026) đều có giá trần cao hơn giá tham chiếu khoảng 20%. Từ phiên thứ hai, biên độ theo luật thường của sàn mới.
Điều này đáng để ý trong năm 2026. Theo Thông tư 139/2025/TT-BTC, mọi cổ phiếu đang niêm yết trên HNX giao dịch phiên cuối ở HNX ngày 23/12/2026 và giao dịch ở HOSE từ ngày 28/12/2026. Từ đó biên độ hằng ngày của chúng hẹp lại từ ±10% xuống ±7%.
Trần trắng, sàn trắng nghĩa là gì
- Tăng trần: giá khớp chạm giá trần.
- Trần trắng bên bán, hay "trắng bên bán": giá ở mức trần và không còn ai đặt bán, chỉ còn lệnh mua xếp hàng. Người muốn mua thêm hầu như không mua được.
- Giảm sàn và sàn trắng bên mua: ngược lại, giá ở mức sàn và không còn lệnh mua. Người muốn bán hầu như không bán được trong phiên đó.
Sàn trắng là lúc rủi ro thanh khoản lộ ra rõ nhất: lệnh cắt lỗ đặt ở giá sàn cũng có thể không khớp, và phải chờ sang phiên sau với một giá tham chiếu mới thấp hơn. Đó là lý do biên độ hẹp không có nghĩa là rủi ro nhỏ: một mã có thể giảm sàn nhiều phiên liên tiếp.
Xem giá tham chiếu, trần, sàn trên iWinStock
- Trang của mỗi mã hiện giá tham chiếu, trần, sàn của phiên đang chạy ngay dưới giá, ví dụ tổng quan MWG.
- Bảng biến động ở trang chủ tô màu mã theo quy ước bảng điện: tím khi chạm trần, xanh lơ khi chạm sàn, vàng khi đứng giá tham chiếu, xem trang chủ.
- Tab Lịch sử giá có giá khớp lệnh thực tế từng phiên và giá đóng cửa đã điều chỉnh theo cổ tức, ví dụ lịch sử giá TCX quanh ngày 17/09/2026.
Câu hỏi thường gặp
Giá tham chiếu là gì? Là mốc giá của một phiên, dùng để tính giá trần, giá sàn và mức tăng giảm trong ngày. Ở HOSE và HNX nó là giá đóng cửa phiên trước; ở UPCoM là giá bình quân gia quyền khớp lệnh của phiên trước.
Biên độ dao động của HOSE, HNX, UPCoM là bao nhiêu? Ngày thường là ±7% ở HOSE, ±10% ở HNX và ±15% ở UPCoM. Ngày đầu lên sàn hoặc giao dịch lại sau hơn 25 phiên tạm ngừng là ±20%, ±30% và ±40%.
Vì sao giá trần không đúng bằng giá tham chiếu cộng 7%? Vì giá phải theo bước giá, nên giá trần được làm tròn xuống và giá sàn làm tròn lên. MWG phiên 09/10/2026 tham chiếu 76.100 đồng, phép nhân ra 81.427 đồng nhưng giá trần là 81.400 đồng.
Vì sao giá tham chiếu thấp hơn giá đóng cửa hôm trước? Thường vì hôm đó là ngày giao dịch không hưởng quyền: giá tham chiếu được trừ cổ tức tiền hoặc chia theo tỷ lệ cổ phiếu thưởng. Ở UPCoM còn vì giá tham chiếu là giá bình quân, không phải giá đóng cửa.
Trần trắng và sàn trắng là gì? Trần trắng là giá ở mức trần và không còn lệnh bán; sàn trắng là giá ở mức sàn và không còn lệnh mua. Khi sàn trắng, người muốn bán gần như không bán được trong phiên đó.
Bài viết giải thích khái niệm và số liệu, không phải khuyến nghị đầu tư.